Những chặng đường hợp tác giáo dục Việt Nam - Hàn Quốc (1992 – 2010) – thành công, thách thức và giải pháp

Từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc được thiết lập một cách chính thức giữa hai chính phủ (1992), cả hai nước đã chung tay xây dựng mối quan hệ này..

TÓM TẮT

Từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc được thiết lập một cách chính thức giữa hai chính phủ (1992), cả hai nước đã chung tay xây dựng mối quan hệ này và gặt hái được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, mối quan hệ bang giao đó càng tiến triển theo chiều sâu, nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, đóng góp vào việc xây dựng phát triển của cả hai nước. Lĩnh vực giáo dục là tiền đề cho các lĩnh vực hợp tác khác, và được hai nước quan tâm chú trọng, Việt Nam – Hàn Quốc đã tăng cường nâng cấp cơ sở vật chất trường học, liên kết đào tạo và trao đổi, hợp tác khoa học công nghệ liên quan đến giáo dục, nhằm mục tiêu chung là làm thế nào để mối quan hệ hai nước ngày càng bền chặt hơn. Bài viết nhận định những thành công, hạn chế trong hợp tác giáo dục hai nước, đồng thời kiến nghị một số giải pháp để lĩnh vực hợp tác này ngày càng tiến đến giao điểm mà hai nước mong muốn.

THE EDUCATION’S COOPERATION BETWEEN VIETNAM
AND KOREA (THE YEAR 1992 TO THE YEAR 2010)
– SOME SUCCESS, CHALLENGES AND SOLUTIONS

ABSTRACT

Since diplomatic relations between Vietnam and Korea was formally established between the two governments (1992), both countries joined hands to build this relationship and achieved many accomplishments on many aspects: economy, culture, politic, society, education ... In the early years of the twenty-first century, that diplomatic relations progressed in depth, enhance mutual understanding, contributing to the development of both countries. Educational sector is a prerequisite for the other aspects of cooperation, so both countries focused on, Vietnam - Korea has stepped up to upgrade school facilities, joint training and exchange, scientific and technological work related to education, to the overall goal how to the relationship of two countries increasingly stronger. This article identifies the successes, limitations of two countries' cooperation in education, and proposes some solutions to these cooperation towards the point which two countries desired.

-----***-----

1. Những tiền đề tạo dựng nên quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Hàn Quốc

Những biến chuyển của tình hình quốc tế và khu vực từ 1992 - 2010

Vào thập niên 90 và đặc biệt là những năm đầu của thế kỉ XXI, bối cảnh quốc tế có nhiều bước phát triển mới. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, trật tự thế giới hai cực Yalta không còn nữa, mâu thuẫn đối đầu giữa hai khối Xã hội chủ nghĩa và Tư bản chủ nghĩa không còn gay gắt. Sự chấm dứt chiến tranh lạnh làm cho những kế hoạch cấm vận không còn khả năng để thực hiện, tạo điều kiện cho các mối giao lưu hợp tác về kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa các nước.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương không nằm ngoài quy luật của quá trình vận động chung của thế giới, xu thế hợp tác của các nước ngày càng bền chặt hơn. Đối với khu vực Đông Nam Á, các nước ASEAN đã tăng cường sự hợp tác bền chặt trong nội bộ tổ chức này. Bên cạnh việc hợp tác trong nội khối, ASEAN cũng tăng cường hợp tác bên ngoài như ASEAN +1, ASEAN +3,… qua Diễn đàn hợp tác Á - Âu ASEM… Thông qua đó, Đông Nam Á ngày càng vươn lên mạnh mẽ và có vị trí quan trọng trên trường quốc tế. Trong những thập kỷ vừa qua, hợp tác giữa ASEAN với Hàn Quốc đã có những bước khởi sắc quan trọng, thông qua việc Hàn Quốc kí kết các hiệp định văn hóa với các nước ASEAN. Chính việc Hàn Quốc kí các Hiệp định văn hóa với các nước Đông Nam Á, tạo nên một bức tranh chung trong khu vực, đó là điều kiện thuận lợi đối với Việt Nam.

Như vậy, từ đầu thập niên 90 đến nay, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến chuyển thuận lợi cho những mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc.

Những tương đồng về văn hoá, lịch sử Việt Nam và Hàn Quốc

Việt Nam và Hàn Quốc là một trong những điển hình hợp tác song phương có nền tảng từ cơ sở văn hoá tương đồng, đã xích lại gần nhau giành lấy những thành công trên lĩnh vực hợp tác văn hoá, giáo dục.

Về mặt văn hoá, Hàn Quốc cũng như Việt Nam đều thuộc Châu Á, và tính định cư của văn hoá nông nghiệp đặc biệt là nghề trồng trọt đã tạo nên những hằng số văn hoá trong đó đặc trưng về tính cố kết của cộng đồng và tính huyết thống thể hiện một cách rõ nét, sâu sắc. Một trong những nét chung của văn hoá hai nước là sự chịu ảnh hưởng sâu sắc của yếu tố văn hoá Trung Hoa.

Như vậy, văn hoá Việt Nam và Hàn Quốc đều bắt nguồn trên cơ sở “một cội nguồn văn hoá bản địa bền vững, những yếu tố ngoại nhập đều phải thích nghi, kết hợp với điều kiện nội sinh, làm phong phú nền văn hoá dân tộc và nâng cao bản sắc dân tộc”.

Về mặt lịch sử

Hàn Quốc và Việt Nam đều là những quốc gia có lịch sử trải dài với các cuộc đấu tranh chống sự xâm lăng của ngoại bang. Một điểm trùng hợp khắc sâu vào tâm trí mỗi một người Hàn và Việt là sự chia cắt của đất nước, ly tán thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Nếu hình ảnh cây cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17 khắc mãi trong lòng người Việt thì việc xóa bỏ ranh giới khu phi quân sự trên vĩ tuyến 38 vẫn là mong mỏi lớn nhất của người Hàn cho đến nay.

Sự tương đồng trong văn hoá và lịch sử, hai dân tộc Việt - Hàn chính là cơ sở vững chắc để xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hàn Quốc giai đoạn 1992 - 2009

Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã có những bước chuyển biến quan trọng, chính phủ hai nước đã xúc tiến thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau. Ngày 22/12/1992, hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ. Đây là sự kiện quan trọng khép lại những bất đồng trong quá khứ đồng thời mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nước, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước.

Về pháp lý, hợp tác giáo dục là một trong những nội dung quan trọng để Việt Nam và Hàn Quốc tiến tới tầm “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI” như hai nước đã từng tuyên bố chung vào tháng 8 - 2001.

Việt Nam - Hàn Quốc đã ký kết những hiệp định như Hiệp định Hợp tác Giáo dục tháng 3 - 2000 và Hiệp định hợp tác Giáo dục và Đào tạo ngày 31/05/2005. Ngày 22/10/2007, Bộ trưởng Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc Kim Shin IL đã có cuộc hội đàm với thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về giáo dục và nhân lực.

Ngày 09/10/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân cùng 21 quan chức của Văn phòng chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng các trường Đại học Việt Nam bắt đầu chuyến thăm và làm việc tại Hàn Quốc nhằm thúc đẩy hợp tác hai nước trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

2. Hợp tác giáo dục Việt Nam – Hàn Quốc (1992 – 2010) 



Tăng cường và nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học

Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ cho Việt Nam một số cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng như dự án nâng cấp trường Trung học Công nghiệp Hà Nội, dự án xây dựng trường Kỹ thuật công nghiệp Việt - Hàn và trường Công nhân kỹ thuật cơ điện Quy Nhơn. Thông qua Tổ chức Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc, Hàn Quốc đã hỗ trợ xây dựng 40 trường tiểu học tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Trung tâm Thư viện Điện tử tại Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

Thông qua các dự án hợp tác về khoa học và công nghệ, Hàn Quốc đã chuyển giao công nghệ và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào giáo dục. Nhiều tổ chức của Hàn Quốc đã tích cực giúp đỡ Việt Nam trong việc nâng cấp cơ sở vật chất giáo dục. Hội Hữu nghị Văn hóa Thanh thiếu niên Hàn - Việt (KOVEX) đã hỗ trợ giúp đào tạo nghề chủ yếu là con lai Hàn Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp đến là Quỹ phúc lợi Jung Hae Hàn Quốc và Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề Thủ Đức có chương trình hợp tác xây dựng nâng cấp cơ sở vật chất - kĩ thuật phục vụ công tác đào tạo nghề cho con lai Hàn Quốc cùng các trẻ em nghèo Việt Nam tại địa phương.

Hàn Quốc đã đầu tư xây dựng mạng lưới máy tính ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Hợp tác Công nghệ Việt - Hàn, Phòng thí nghiệm an toàn điện… đã giúp cho Việt Nam trong việc tiếp cận khoa học kỹ thuật và ứng dụng ngày càng sâu rộng vào hệ thống giáo dục từ bậc phổ thông đến đại học.

Liên kết đào tạo và trao đổi

Liên kết đào tạo là một mảng nhỏ trong quan hệ hợp tác giáo dục của hai nước. Nhưng gần đây, với những đòi hỏi cao về con người mới trong “thế giới phẳng” đã làm cho mối quan hệ này trở nên chặt chẽ có hệ thống hơn. Trong đó bao gồm việc phát triển đào tạo ngôn ngữ và hai ngành Việt Nam học, Hàn Quốc học, thiết lập các quỹ học bổng hỗ trợ học sinh, sinh viên du học, giáo viên thực tập, trao đổi chuyên gia, chuyên viên, nghiên cứu sinh, tăng cường giao lưu giữa các trường đại học…

Hợp tác phát triển đào tạo ngôn ngữ và hai ngành Việt Nam học, Hàn Quốc học

Trước nhu cầu mới của xã hội, đặc biệt khi trào lưu văn hóa Hàn đang du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam thì việc thúc đẩy phát triển ngôn ngữ cần nâng lên một tầm cao mới để hai nước có sự hiểu biết lẫn nhau một cách sâu sắc hơn. Ngay sau khi hai nước có quan hệ hữu nghị năm 1992, khoa Ngữ văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH & NV) - Đại học Quốc gia Hà Nội đã thành lập bộ môn tiếng Hàn. Năm 2002, con số này chính thức lên đến “5 trường Đại học thành lập khoa Tiếng Hàn”.

Về bộ môn Hàn Quốc học, từ năm 1993 đã được thành lập tại khoa Đông phương học với mục đích “đào tạo chuyên gia có tri thức đa dạng về Đông phương học và có những kiến thức tương đối toàn diện, sâu sắc về môi trường tự nhiên, lịch sử, văn hoá, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị, luật pháp và quan hệ quốc tế của Hàn Quốc”. Hiện nay, với nhu cầu xã hội tăng mạnh, con số này đã lên đến 10 trường đào tạo ngành Hàn Quốc học và bộ môn tiếng Hàn với số lượng sinh viên ngày càng đông đảo.

Nhằm hỗ trợ cho công tác giảng dạy ngành Hàn Quốc học, Việt Nam mở rộng các cơ quan nghiên cứu như Ban nghiên cứu Hàn Quốc học của Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á thành lập ngày 28/02/1998; Trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc học của Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập năm 2006 và Đại học KHXH&NV - Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thành lập năm 2008. Trong đó, Trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc trực thuộc viện Đông Bắc Á được đánh giá là cơ quan nghiên cứu quy mô về Hàn Quốc học tại Việt Nam, có chức năng và nhiệm vụ “tìm hiểu nghiên cứu, giới thiệu đất nước, lịch sử, con người, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, quan hệ quốc tế của Hàn Quốc nhằm góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Chính phủ Việt Nam. Đồng thời, Trung tâm thông tin và giới thiệu các khía cạnh của nền văn minh Hàn Quốc cho người Việt Nam, phục vụ nhu cầu hiểu biết của nhân dân Việt Nam về đất nước và con người Hàn Quốc, góp phần tăng cường hữu nghị, quan hệ hợp tác giữa hai nước”.

Về phía Hàn Quốc, sau khi quan hệ giáo dục Việt - Hàn được xác lập, ở Hàn Quốc đã có 4 trường đại học thành lập khoa đào tạo tiếng Việt. Trong đó có “Đại học Ngoại ngữ Pusan (PUFS) với 40 sinh viên năm 1992, Đại học Chuyên ngữ Sung Sim (HUFS) năm 1994 với 60 - 80 sinh viên, Đại học Công nghiệp Chung Nam, Đại học Liên hiệp Châu Á với 40 sinh viên năm 1998”.

Trong sự phát triển của ngành Hàn Quốc học ở Việt Nam có sự đóng góp rất lớn của Cơ quan hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA), đặc biệt là Quỹ Giao lưu Quốc tế Hàn Quốc tại Việt Nam (KF).

Thiết lập các quỹ học bổng hỗ trợ giáo dục đào tạo

Trong liên kết đào tạo, việc xây dựng các nguồn hỗ trợ nhằm giúp sinh viên hai bên có cơ hội trao đổi, giao lưu và hiểu biết nhau hơn là điều vô cùng quan trọng. Sau khi thiết lập quan hệ chính thức, hai năm sau, Bộ Ngoại giao Hàn Quốc đã tiến hành cấp 2 xuất học bổng cho Việt Nam theo chương trình Thạc sĩ tại Hàn Quốc, số suất học bổng ngày càng tăng dần theo các năm sau đó.

Mặt khác, bắt đầu từ năm 2002, một số trường đại học của Hàn Quốc và Việt Nam đã thực hiện “Quy chế công nhận điểm học lẫn nhau” điển hình là trường Đại học Ngoại ngữ Pusan với Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh thực hiện quy chế “Double degree”(Bằng học liên kết) tiến hành trao, cấp bằng cho sinh viên học 2 năm tại Việt Nam, 2 năm tại Hàn Quốc đã tạo nhiều thuận lợi cho sinh viên trong việc học tập, nghiên cứu.

Về các hoạt động trao đổi chuyên gia, chuyên viên, sinh viên giữa Hàn Quốc và Việt Nam thì từ 1994 trở đi, Quỹ giao lưu Hàn Quốc (Korean Fund) đã liên tục cấp các học bổng cho các học giả. Bên cạnh đó, hằng năm KOICA cử 6 - 10 chuyên gia tình nguyện sang công tác theo yêu cầu của các cơ sở giáo dục Việt Nam, trong số đó đáng lưu ý là các chuyên gia dạy tiếng Hàn hay ngành Hàn Quốc học.

Trong sự hợp tác trao đổi nguồn nhân lực, vai trò của tổ chức hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) và Quỹ Hỗ trợ Giao lưu Quốc tế Hàn Quốc (KF) là vô cùng to lớn. Tính từ cuối năm 1991 cho đến cuối năm 2007, KOICA đã mời tổng số 2.100 người Việt Nam sang Hàn Quốc, chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc, đào tạo nguồn nhân lực giỏi góp phần phát triển Việt Nam. Trong bài phát biểu chào mừng, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam, ngài Im Hong Jae cho biết “Sự kiện ngày hôm nay mang ý nghĩa rất quan trọng, tiêu biểu cho mối quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Tôi tin rằng các bạn đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước phát triển đáng ngạc nhiên trong thời gian qua. Và trong tương lai, Hàn Quốc sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam”.

Trong sự nghiệp hợp tác giáo dục Việt Nam và Hàn Quốc, Quỹ Học bổng và Văn hóa Việt Nam, Viện Phát triển Giáo dục Quốc tế Hàn Quốc cũng đóng vai trò vô cùng to lớn“Với mong muốn đóng góp vào việc duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia trong tương lai, chúng tôi sẽ luôn hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và trao đổi học bổng nhằm bồi dưỡng nhân tài của Việt Nam”.

Trong việc trao đổi học bổng, không chỉ có Chính phủ, các tổ chức hữu nghị về giúp đỡ giáo dục Việt Nam mà còn có các nhà hảo tâm, tập đoàn lớn của Hàn Quốc, tiêu biểu như công ty điện tử Samsung, công ty xây dựng Booyoung. Đại diện công ty xây dựng Booyoung, Chủ tịch Lee Joong Keun phát biểu “Tôi hy vọng rằng chiếc đàn Piano kỹ thuật số do Công ty Booyoung tài trợ không chỉ góp phần cải thiện điều kiện giáo dục âm nhạc nghệ thuật của học sinh tiểu học mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước” và “trong tương lai, chúng tôi vẫn muốn chia sẻ tình cảm với các em nhỏ Việt Nam bằng việc thực hiện các dự án tài trợ những dụng cụ học tập cần thiết khác”.

Tăng cường giao lưu giữa các trường đại học

Việc tăng cường hợp tác, giao lưu giữa các trường cũng được xem là điển hình cho mối quan hệ giáo dục Việt – Hàn. Từ năm 1990 - 1991, Đại học Ngoại Ngữ Hàn Quốc đã kết hợp với 2 trường là Đại Học KHXH & NV Hà Nội và Đại học KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh, thông qua việc trao đổi sinh viên, chuyên viên, giảng viên. Cho đến năm 2009, các trường đại học này vẫn đang mở rộng quan hệ hợp tác. Trong đó, Đại học Ngoại ngữ Sungshim đã kết nghĩa với 3 trường đại học lớn của Việt Nam là Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh (12/1995), Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (04/1999). Bên cạnh việc thông qua kênh chính phủ, nhiều trường tự thông qua các mối quan hệ, lợi ích, nhu cầu của mình để trao đổi, hợp tác theo chuyên ngành, đơn cử như khoa Lịch sử của trường Đại học Khoa học - Đại học Huế và khoa Lịch sử của Đại học Inha - Hàn Quốc (2008)...

Một bước nhảy vọt mới trong hợp tác giáo dục là việc ngày 16/5/2009 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục – Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã tổ chức “Lễ khởi công xây mới Trường Hàn Quốc Hà Nội tại Việt Nam” với sự tham dự của hơn 400 đại biểu, trong đó có Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Khoa học & Công nghệ Hàn Quốc Ahn Byong Man, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Đại sứ Hàn Quốc tại Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Hàn Quốc, giáo viên, học sinh, phụ huynh, Hàn kiều… Đây là ngôi trường đánh dấu giúp giáo dục Hàn Quốc vươn ra tầm quốc tế và sẽ góp phần mở rộng hơn nữa mối quan hệ giao lưu hợp tác giáo dục giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc.

Hợp tác khoa học công nghệ liên quan đến giáo dục - đào tạo

Sau hơn 4 thập kỷ đẩy mạnh phát triển kinh tế, Hàn Quốc đã chủ động xây dựng chiến lược đi sâu vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, đồng thời chú trọng các hoạt động chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển. Hàn Quốc là quốc gia có nền khoa học - công nghệ tiên tiến vượt trội so với Việt Nam. Nhận thức được vấn đề này, Việt Nam luôn chủ động đẩy mạnh trao đổi, hợp tác với Hàn Quốc trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc biệt là chú trọng đào tạo nguồn nhân lực hiện đại cho đất nước.

Các chương trình hợp tác khoa học - công nghệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc cũng như với các nước khác được thực hiện theo các hình thức chủ yếu như trao đổi cán bộ, đào tạo dài hạn và ngắn hạn, tổ chức tại Việt Nam các lớp học chuyên đề, các hội nghị và hội thảo khoa học.

Trong dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển nguồn nhân lực về khoa học công nghệ, tổ chức KOICA đã tiến hành các dự án xây dựng các trường học đào tạo về kỹ thuật, công nghệ… Sau kết quả hội đàm cấp cao giữa hai nước Việt Nam – Hàn Quốc năm 1996, từ năm 1997 đến năm 2001, KOICA đã hỗ trợ xây dựng Trường Cao đẳng Nghề Kĩ thuật Công nghiệp Việt - Hàn thông qua việc xây dựng trường, hỗ trợ trang thiết bị giáo dục, đào tạo đội ngũ giảng viên, tư vấn cho trường quá trình đào tạo… với mục đích hỗ trợ đào tạo nhân lực cho ngành công nghiệp và phát triển cân bằng quốc gia.

Cuối năm 2009, được sự hỗ trợ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và sự hợp tác từ các nhà khoa học của Đại học Quốc gia Seoul, Hàn quốc, Viện Vật lý đã tổ chức “Hội thảo Việt Nam – Hàn quốc về Quang tử tiên tiến” (Vietnam - Korea Workshop on Advanced Photonics). Các nhà khoa học hai bên đã trình bày báo cáo khoa học, trao đổi kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu của mình trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quang tử và các ứng dụng của chúng. Các nhà khoa học của Đại học Quốc gia Seoul đề nghị phối hợp với Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Vật lý để tiếp tục tổ chức Hội thảo Việt Nam – Hàn quốc về Quang tử tiên tiến vào các năm sau, lần lượt tại Việt Nam và Hàn Quốc, nhằm phát triển các hình thức hợp tác giữa hai bên trong nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ và đào tạo.

3. Thành tựu, thách thức và giải pháp để nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Hàn Quốc

Thành tựu trong quan hệ hợp tác giáo dục

Hợp tác Việt - Hàn trên lĩnh vực giáo dục đã góp phần tích cực vào tình hữu nghị của hai nước, làm cầu nối quan trọng cho sự phát triển các mối quan hệ hữu nghị khác thông qua các cuộc giao lưu hợp tác giữa các trường đại học, trao đổi chuyên gia, chuyên viên, sinh viên… trong việc đẩy mạnh nghiên cứu Hàn Quốc học, Việt Nam học.

Hợp tác giáo dục Việt - Hàn đã nâng cao chất lượng giáo dục cũng như cơ sở vật chất của một số trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu và cả các trường phổ thông tại Việt Nam thông qua việc Hàn Quốc hỗ trợ xây dựng, tài trợ về cơ sở vật chất cho Việt Nam trong vấn đề phát triển giáo dục về chất lượng và cơ sở vật chất kỹ thuật.

Việc cung cấp học bổng cho sinh viên Việt Nam đã giúp sinh viên Việt Nam tiếp cận với một trong những môi trường giáo dục tiên tiến của thế giới. Thông qua việc tiếp xúc, học tập những phương pháp học hiện đại, sinh viên Việt Nam sẽ đóng góp một phần vào việc xây dựng hệ thống giáo dục Việt Nam theo phương pháp tiếp cận mới đó. Hàn Quốc có điều kiện quảng bá thương hiệu giáo dục của mình không chỉ đến Việt Nam mà còn trên trường quốc tế.

Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục thông qua các cuộc hội thảo sẽ là nguồn khơi cho những sáng tạo về nghiên cứu khoa học. Khiến cho những sinh viên và những nhà nghiên cứu Việt Nam không tự bằng lòng với những gì đã có mà luôn luôn học hỏi những thông tin khoa học mới. Hợp tác giáo dục mà Hàn Quốc giúp đỡ Việt Nam còn nhằm giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đó là cách làm không chỉ hợp tác đơn thuần mà còn mang tính nhân đạo. Tạo sự công bằng cho các thế hệ con lai được hưởng những quyền lợi của mình. Chính nhờ hợp tác giáo dục mà không chỉ các trường đại học, các viện nghiên cứu gắn bó lẫn nhau mà còn giúp lãnh đạo hai nước xích lại gần nhau. Tạo điều kiện cho các hợp tác khác được diễn ra tốt đẹp hơn. Bởi lẽ giáo dục là chìa khóa cho phát triển.

Nhờ những thành quả đạt được trên hai lĩnh vực văn hóa, giáo dục trong quan hệ hợp tác Việt - Hàn đã mang lại những lợi ích cho cả hai phía. Về phía Việt Nam, chúng ta được nhận viện trợ của Hàn Quốc để tiến hành công tác nghiên cứu về Hàn Quốc, được tiếp cận với một nền văn hóa mới và giáo dục tiên tiến. Còn về phía Hàn Quốc có cơ hội để quảng bá văn hóa, giáo dục của mình ở Việt Nam để ngày càng nâng vị trí của mình trên trường quốc tế. Ngoài ra, sự thành công của quan hệ hợp tác hai nước Việt - Hàn là động lực cho các nước khác trong khu vực ngày càng mạnh dạn hơn, vững vàng hơn trong các quan hệ hợp tác song phương và đa phương với Hàn Quốc

Những mặt còn hạn chế trong quan hệ hợp tác giáo dục Việt - Hàn

Đây được xem là lĩnh vực hợp tác còn được mở rộng và triển khai mạnh hơn nữa về lâu dài của hai nước. Trong nhiều năm qua, mối quan hệ giữa hai bên tuy đã đạt những thành tựu đáng kể, nhưng thực tế chưa đáp ứng với tiềm năng của hai nước. Con số du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc vẫn là con số khá còn khiêm tốn. Đến ngày 30/06/2003, có 86 sinh viên của Hàn Quốc theo học tại Việt Nam, trong đó có sinh viên cao học, 57 sinh viên đại học, 23 sinh viên học tại các khoa Ngoại ngữ. Những con số này không đáng kể so với các con số tương ứng là 5854, 24340 và 42505 sinh viên Hàn Quốc theo học tại các nước trong khu vực Châu Á, Châu Đại Dương và các con số 36140, 62191 và 61572 trên toàn thế giới. Việc tích cực thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ hợp tác giáo dục, số lượng sinh viên du học Hàn Quốc đã tăng đáng kể từ 1500 (2006) lên đến 2000 sinh viên và nghiên cứu sinh (2009). Tuy nhiên, con số này vẫn đang ở mức khiêm tốn.

Lý do cơ bản cho tình trạng trên là do sự chênh lệch về mức thu nhập của hai nước. Việt Nam vẫn đang được xem là một trong những quốc gia nghèo của thế giới. Việc cho con em đi học ở nước ngoài xét cho cùng vẫn rất hạn chế. Đặc biệt, để theo học ở Hàn Quốc phải “Chứng minh tài khoản 10000 USD gửi ngân hàng, nhưng đấy là gánh nặng đối với học sinh Việt Nam”. Ngoài ra, do sự chênh lệch giữa trường tư nhân và trường công, nên nguồn tài chính chủ yếu phải lấy từ học viện là nguồn thu tài chính. Điều này làm cho nguồn học bổng thường ít và không thực sự thu hút sinh viên Việt Nam bằng giá trị của các suất học bổng của Nhật, Mỹ... Mặt khác, so với tiếng Anh, Pháp là những ngôn ngữ đã được phổ thông hoá tại Việt Nam, tiếng Hàn chủ yếu dành cho sinh viên chuyên ngữ nên khó “book” được những suất học bổng giá trị bằng tiếng Hàn hơn là tiếng Anh hay Pháp. Còn ở đối với sinh viên Hàn Quốc, việc chọn du học ở Việt Nam còn là vấn đề đáng suy nghĩ, do trình độ giáo dục hai nước còn quá chênh lệch. Từ hai yếu tố này đã góp phần làm cho số lượng lưu sinh viên Việt, Hàn ở cả hai nước hãy còn rất thấp.

Một số vấn đề đặt ra là việc phát triển hai ngành Hàn Quốc học và Việt Nam học cũng như việc phổ biến tiếng Hàn Quốc và tiếng Việt vẫn còn gặp phải những thách thức. Hơn nữa, nguồn nhân lực giảng dạy tiếng Hàn tại Việt Nam vẫn còn phụ thuộc vào tình nguyện viên của KOICA khá nhiều. Các tình nguyện viên này lại thiếu kỹ năng nghiệp vụ, luôn bị xáo trộn nên hiệu quả mang lại chưa cao. Tại các trường như Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Hà Nội, ngành Hàn Quốc học vẫn đang là nghiêng về đào tạo ngôn ngữ hơn là chuyên gia Hàn Quốc. Với nhu cầu việc cho các công ty Hàn – Việt, sinh viên trong ngành này chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực phiên dịch, du lịch... Một điều đáng nhắc nhở là do phía Hàn Quốc cung cấp nên thiếu hẳn những giáo trình do Việt Nam biên soạn.

Theo tình hình ngược lại, tiếng Việt tại Hàn Quốc cũng không mấy hấp dẫn. Tiếng Việt tại Hàn Quốc vẫn bị xếp vào “nhóm ngôn ngữ đặc biệt” chưa được sự quan tâm của chính phủ, Bộ Giáo dục hay trường Đại học ở Hàn Quốc dành cho những quan tâm, nguồn hỗ trợ đáng kể. Tương tự Việt Nam, chương trình đào tạo tiếng Việt tại Hàn Quốc vẫn chú trọng nhiều ở kỹ năng giao tiếp, phiên dịch, dịch thuật ... Do vậy, việc đào tạo những chuyên gia về Việt Nam, hầu như rất ít ỏi. Đó là chưa kể đến việc có chương trình đào tạo về Việt Nam cho sau đại học.

Trong việc kết nghĩa giữa các trường Đại học, một vấn đề đáng lưu ý là “những trường hợp có quan hệ hợp tác thật sự” vẫn tồn tại những trường hợp “việc giao lưu đào tạo không có hiệu quả” do “Trường Đại học Hàn Quốc nặng nề về hỗ trợ cho các trường đại học phía Việt Nam”. Do vậy, sự thiếu chủ động và phụ thuộc vào làm cho mối quan hệ khó đạt được sự giao lưu hiệu quả. Trong lĩnh vực hợp tác khoa học và công nghệ liên quan đến giáo dục – đào tạo, những hạn chế về phương diện khoa học – kỹ thuật chủ đạo, tổ chức công tác, tích lũy tri thức đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu chiều sâu.

Những bất đồng về ngôn ngữ cũng đặt ra những thách thức về mặt hợp tác. Cho đến nay, trong các hội thảo, tọa đàm hợp tác hai nước, các bài báo cáo phát biểu phải dùng tiếng Anh để truyền tải, thậm chí trong giao thiệp qua lại. Điều này gây ra nhiều nhầm lẫn đáng tiếc. Do vậy, việc đẩy mạnh phát triển chuyên gia tiếng Hàn, Anh (phía Việt Nam) và chuyên gia tiếng Anh, Việt (phía Hàn Quốc) là hết sức cần thiết.

Nhìn lại quá khứ lịch sử, yếu tố Hàn Quốc từng đưa quân sang xâm lược Việt Nam và gây nhiều tội ác đã gây cản trở trong tâm lý quá trình hội nhập nhân dân hai bên. Đặc biệt tình hình xã hội với những vấn đề nổi lên như tệ nạn thương mại hóa phụ nữ Việt sang Hàn, các vụ xúc phạm đến việc các cô dâu Việt trên đất Hàn đã làm quan hệ giữa hai nước gặp phải những trở ngại, hai bên cùng phải phối hợp giải quyết để xóa tan mọi nghi kỵ của lịch sử hướng đến tương lai bền vững hơn trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục.

Một số giải pháp nhằm nâng cao mối quan hệ hợp tác giáo dục Việt Nam – Hàn Quốc

Bộ Giáo dục Việt Nam cần định hướng thực hiện một số công việc chính trong hợp tác với Hàn Quốc như “Đàm phán và ký kết Hiệp định về vấn đề tương đương văn bằng giáo dục giữa hai nước; Triển khai mạnh mẽ hơn nữa việc thực hiện dự án cử công dân Việt Nam đi đào tạo tại Hàn Quốc theo đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) ở Hàn Quốc bằng ngân sách nhà nước; phê duyệt cho phép thực hiện giữa các cơ sở đào tạo đại học hai nước về việc đào tạo cán bộ, sinh viên Việt Nam với kinh phí do Việt Nam cấp; Tạo điều kiện cho phép các cơ sở giáo dục của Hàn Quốc có đủ điều kiện cần thiết mở các văn phòng đại diện, cơ sở liên kết đào tạo”.

Hoạt động trao đổi hợp tác giáo dục cần được tăng cường với Bộ Giáo dục, Khoa Học Hàn Quốc, cũng như các trường Đại học Hàn Quốc. Trong đó việc trao đổi các đoàn cấp Bộ để tăng cường trao đổi thông tin về giáo dục giữa hai nước. Mặt khác, các hoạt động giao lưu như triển lãm, hội nghị, hội thảo, tọa đàm... do hai Bộ chủ trì. Về lĩnh vực học bổng, du học cả hai cần chú trọng cử cán bộ sinh viên và việc cấp học bổng của chính phủ Hàn Quốc cần chú ý vào một số ngành Hàn Quốc có lợi thế và Việt Nam vẫn còn kèm như khoa học cơ bản, các ngành khai thác khoáng sản thiên nhiên, dầu khí, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ sinh học, tự động hóa... Số lượng các trường nhận đào tạo học sinh vẫn còn hạn chế ở Hàn Quốc, do vậy cần có những hỗ trợ để có thể mở rộng số lượng trường đào tạo lưu học sinh.

Đối với cán bộ giảng dạy của các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu của hai nước được sang Hàn Quốc hoặc Việt Nam để trao đổi, nghiên cứu về các ứng dụng khoa học kỹ thuật và nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ. Vai trò của phòng công tác lưu học sinh của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc cần thường xuyên liên hệ chặt chẽ với các trường Đại học ở Hàn Quốc và đề nghị các trường có những báo cáo định kỳ 6 tháng, 1 năm về toàn bộ học sinh Việt Nam đang theo học để thực hiện tốt công tác quản lý lưu học sinh đang theo học tại Hàn Quốc.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Dũng (2002), "Hợp tác khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc: Kết quả và triển vọng", Quan hệ Việt Nam Hàn Quốc: 10 năm và xa hơn nữa, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Dương (2009), “Quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục từ 1992 đến nay”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 12.

3. Hoàng Văn Hiển (1998), Giáo dục và Đào tạo Hàn Quốc, Nxb Lao Động, Hà Nội.

4. Hoàng Văn Hiển và đồng sự (2004), Quan hệ kinh tế và hợp tác giáo dục- đào tạo của Việt Nam - Hàn Quốc (1992 - 2002), Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu KHCN cấp bộ, Đại học Huế.

5. Trần Kim Lan (2002), "Hợp tác song phương Việt - Hàn về giáo dục văn hóa từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao: hiện tại và triển vọng", Quan hệ Việt Nam Hàn Quốc: 10 năm và xa hơn nữa, Hà Nội.

6. Kim Ki Tae, "Những thành quả hợp tác về văn hóa giáo dục giữa hai nước kể từ sai khi có quan hệ hữu nghị Hàn Quốc - Việt Nam", Quan hệ Việt Nam Hàn Quốc: 10 năm và xa hơn nữa, Hà Nội.



Nguồn: Tham luận đăng trong kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai” (International Conference on Vietnam - Korea Relationship in the past, the present and the future) do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM tổ chức dưới sự tài trợ của Viện Nghiên cứu văn hóa trung ương Hàn Quốc (The Academy of Korean Studies) vào ngày 1.12.2012.
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.