Tiểu thuyết của Pak Chi Won (Phác Chỉ Nguyên) - một nhà văn của phái thực học Triều Tiên

Phái thực học Triều Tiên ra đời vào giai đoạn thoái trào của xã hội phong kiến triều Lý. Phái này chống lại những giáo điều của Nho giáo...

Phái thực học Triều Tiên ra đời vào giai đoạn thoái trào của xã hội phong kiến triều Lý. Phái này chống lại những giáo điều của Nho giáo, phê phán xã hội đương thời, đề ra những chủ trương thiết thực để cải cách xã hội và chấn hưng đất nước.



Pak Chi Won (1737-1805)- một thành viên của phái thực học-vừa là nhà cải cách kinh tế xã hội vừa là nhà văn có tư tưởng tiến bộ.

Tiểu thuyết của ông vạch trần thói ăn bám, châm biếm thói ngu xuẩn bất tài, hành vi đê tiện của bọn quý tộc quan lại phong kiến; đồng tình thương xót những người có tài mà không được trọng dụng, phải chịu cô đơn bất hạnh; ca ngợi những người có chí hướng cao đẹp, có cống hiến đối với công cuộc cải cách xã hội.

Pak Chi Won còn là nhà thơ, nhà viết ký phản ánh tâm tình của nhân dân và cuộc sống xã hội Triều Tiên và Trung Quốc ở thời ông sống.

Tuy tác phẩm của ông để lại không nhiều, nhưng chúng đều là những viên ngọc quý ánh lên vẻ đẹp tinh thần của nhân dân Triều Tiên thế kỷ XVIII. 

PAK CHI WON’S NOVEL - A WRITER OF KOREA REAL LEARNING SCHOOL

ABSTRACT

Korea real learning school has been established in the decline period of feudal society of Ly dynasty. This group faced with points of Confucianism, criticized contemporary society and given practical policies in order to reform society and develop the country.

Pak Chi Won (1737-1805) - as a member of real learning school - as an economic and social reformer and a writer with progressive ideas.

His novels exposed parasitic lifestyles and satirized stupidities and dishonorable behavior of aristocracy of feudal era; besides, he sympathized with talented people but not used, must be lonely life and praised people devoting to social reform with ambition.

Pak Chi Won is also a poet, a writer reflecting sentiments of people and social life of Korea and China in his age.

Although his publications were not much, they were all precious jewels performing spiritual beauty of Korea in the 18th century.

-----***-----

Thực học là học vấn thiết thực hữu ích đối với quốc kế dân sinh. Phái thực học của Triều Tiên ra đời vào giai đoạn thoái trào của xã hội phong kiến triều Lý, tức thế kỷ XVII, và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX. Phái này chống lại chủ nghĩa công thức giáo điều của Nho giáo, chống lại lý thuyết suông, chủ trương thông qua nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học, kỹ thuật, văn hóa…để phê phán xã hội đương thời, đề ra những cải cách, mong chấn hưng đất nước.

Đội ngũ của phái thực học Triều Tiên thời bấy giờ khá đông đảo, nhưng nổi tiếng nhất là Liễu Hinh Viễn (1622 - 1673), Lý Phấn (1681 – 1763), Đinh Nhược Dũng (1762 – 1836), Phác Tề Gia (1750 -1805), Lý Đức Mậu (1741 – 1793), Phác Chỉ Nguyên v v…Họ đều nhìn thấy những tệ nạn đương thời, hy vọng cải cách của họ hoặc ít hoặc nhiều đều chịu ảnh hưởng của văn hóa cổ Trung Quốc.

Pak Chi Won vừa là nhà cải cách kinh tế xã hội vừa là nhà cải cách văn học, Cùng với các đồng chí của mình, Pak Chi Won chủ trương văn học có nhiệm vụ vạch trần sự hủ bại của giai cấp thống trị phong kiến, đồng tình với số phận bi thảm của nhân dân lao động và nêu cao lý tưởng cải cách xã hội. Họ chống bắt chước, chủ trương sáng tạo và phản ánh hiện thực.

Pak Chi Won sinh năm 1737, mất năm 1805, ông là tác giả cuối triều Lý, có nhiều tiểu thuyết về đề tài cải cách xã hội.

Thời trẻ, ông học rộng biết nhiều, năm 20 tuổi bắt đầu đề xướng tư tưởng cải cách. Năm 1780, ông đi thăm Trung Quốc, tìm hiểu hiện thực xã hội Trung Quốc, từ đó, ông càng vững tâm đi trên con đường cải cách xã hội. Sau thấy quốc sự không thuận, năm 1801, ông thác bệnh, từ quan về quê.

Pak Chi Won hoạt động sáng tác văn học vào cuối thế kỷ XVII. Lúc bấy giờ, trong xã hội phong kiến triều Lý bắt đầu xuất hiện mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Thủ Công nghiệp, thương nghiệp, ngoai thương rất phát đạt. Kinh tế nông nghiệp tuy có phát triển nhưng sự lớn mạnh của thương nghiệp và tư bản làm cho các giai cấp ở nông thôn có sự phân hóa, khiến cho các tầng lợp quan liêu quý tộc dần dần mất vai vế. Đồng thời với sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân, ý thức dân tộc cũng được nâng cao.

Thời đại đổi thay, ý thức của con người cũng thay đổi. Trước sự ngày một tàn tạ của giai cấp phong kiến, một số học giả thức thời quan tâm đến tiền đồ của đất nước và vận mệnh của nhân dân, bắt đầu đi tìm con đường mới để cải cách văn hóa và xã hội.

Bấy giờ, có nhiều học giả và sứ giả Triều tiên đến Trung Quốc, họ được mục kích những cảnh tượng phồn vinh do khoa học kỹ thuật, văn hóa phương Tây đem lại cho Trung Quốc, họ bắt đầu hoài nghi tư tưởng Nho học cổ hủ, bàn suông, bảo thủ. Họ chủ trương nghiên cứu nền học vấn có lợi cho quốc kế dân sinh và sự tiến bộ xã hội, thế là tư tưởng của phái Thực học ra đời. Pak Chi Won kế thừa những nhà Thực học đi trước như Liễu Hinh Nguyên (1622 – 1673), Lý Dực (1682 – 1674)… có cống hiến mới mẻ cho sự phát triển tư tưởng Thực học.

Về mặt tư tưởng, ông là nhà duy vật chủ nghĩa. Ông cho rằng nguồn gốc của thế giới bắt đầu từ hạt bụi, tức phân tử nhỏ nhất của vật chất. Từ sự phối hợp các phân tử khác nhau mà sinh ra vạn vật, bao gồm cả con người.

Ông có xu hướng dân chủ và chủ trương cải cách kinh tế và xã hội. Ông chủ trương chia ruộng đất cho nông dân không có ruộng hoặc ít ruộng. Ông còn chủ trương xóa bỏ sự phân biệt giàu nghèo, quý tiện, phản đối sự cách biệt giữa trung ương và địa phương, ông cho rằng mọi người đều phải được bình đẳng. Ông nêu ra chính sách đề phòng vàng bạc chảy ra nước ngoài, chủ trưởng ổn định vất giá. Ông đề xướng quan tâm và cứu tế cho nạn nhân và ra sức yêu cầu nhà nước giữ gìn kỷ cương phép nước. Ông còn phản đối lễ giáo phong kiến bóp nghẹt phụ nữ, chủ trương quả phụ có quyền tái giá..

Về mặt văn học, ông chống chủ nghĩa hình thức, phản đối sùng bái thơ văn cổ Trung Quốc một cách mù quáng. Mục đích sáng tác của ông là tuyên truyền tư tưởng cải cách xã hội; chủ đề trong các truyện ngắn của ông thường là những vấn đề cơ bản rất quan trọng trong đời sống hiện thực.

Pak Chi Won là “cây đại thụ” về truyện ngắn thời nhà Lý. Những truyện của ông đều có nhân vật trung tâm (trừ truyện Hổ gầm), đều có chữ “Truyện” ở nhan đề truyện. Ví dụ: Hứa sinh truyện, Uế Đức tiên sinh truyện, Ngu Thường truyện… Có thể chia nhân vật của ông ra làm 3 loại:

1. Loại nhân vật ông vạch trần, châm biếm. Ví dụ :tên quý tộc trong Lưỡng bạn truyện, ông Bắc Quách trong Hổ gầm, đại tướng Lý Công trong Hưá Sinh truyện. Ông chế giễu thói ăn bám, châm biếm sự ngu xuẩn, bất tài hoặc đả kích những hành vi đê tiện, vô đạo đức của họ.

2. Loại nhân vật được ông ca ngợi, như Phẫn Phu trong Uế Đức tiên sinh truyện, Hứa sinh trong Hứa sinh truyện. Ông nhiệt liệt ca ngợi cống hiến tích cực của họ đối với loài người, biểu dương chí hướng và hoài bão cao đẹp của họ.

3. Loại nhân vật ông thương xót, đồng tình. Ví dụ Ngu Thường trong Ngu Thường truyện. Ngu Thường có thực tài nhưng không gặp thời nên số phận long đong, vất vả, cuối cùng bi phẫn mà chết sớm. Kim Hoàng Cơ trong truyện Kim thần tiên truyện, Mẫn Ông trong Mẫn Ông truyện, Quảng Văn trong Quảng Văn truyện… đều là những người bị người đời ngược đãi và bất hạnh.

Dưới đây xin giới thiệu mấy truyện tiêu biểu:

Lưỡng ban truyện (1). truyện rất ngắn, chỉ khoảng 1000 chữ, là tác phẩm châm biếm sâu cay giới quý tộc quan liêu tàn tạ. Cốt truyện như sau:

Có một kẻ xuất thân từ quý tộc – “ hiền lành và hiếu học”, nhưng nhà quá nghèo, anh ta thường phải đến nhà quan để vay gạo sống qua ngày, lâu dần nợ quan chồng chất. Một phú thương nọ vốn chưa có chức tước gì, rất mê danh hiệu oai phong của “ Lưỡng ban” bèn đồng ý bỏ ra một món tiền để giúp kẻ sĩ kia trả nợ với điều kiện là kẻ sỹ quý tộc phải bán danh hiệu “ lưỡng ban” cho hắn. Kẻ sĩ quý tộc kia đồng ý, bèn làm văn tự bán danh hiệu “lưỡng ban”cho nhà phú thương. Trong văn tự, đầu tiên là viết tư cách cần phải có của kẻ quý tộc, sau đến các quy tắc, tập quán cần tuân thủ. Nhà phú thương sốt ruột liền muốn biết “ lưỡng ban” có quyền lực gì. Đến khi văn tự nói độc quyền và quý tộc là không phải lao động mà chỉ ngồi mát ăn bát vàng và có quyền quát tháo hống hách với mọi người thì nhà phú thương kia chán ngán, không thèm mua danh hiệu quý tộc “lưỡng ban” nữa, khinh bỉ bỏ đi.

Tác giả không một lời phê phán quý tộc “lưỡng ban”, chỉ thông qua miêu tả khách quan và đối thoại giữa hai người mà bộ mặt xấu xa, hèn hạ của quý tộc liền hiện ra một cách khá rõ: nhút nhát, ti tiện, nịnh hót. Hôm qua vừa mới “qua đường võng giá nghênh ngang” nay vừa mới bán danh xong liền biến thành một kẻ tiểu nhân hèn hạ, xấu xa. Tác giả chỉ ra rằng danh hiệu quý tộc “ lưỡng ban” chẳng có liên quan gì đến tư tưởng đạo đức, học vấn của con người quý tộc cả, chẳng qua chỉ là cái áo khoác ngoài, khi mặc vào thì trở thành quân tử, khi cởi ra thì biến thành kẻ tiểu nhân đáng khinh bị. Cái danh hiệu quý tộc mà cũng trở thành hàng hóa có thể bán được, thật là tức cười !

Nhân vật phú thương trong truyện tuy chỉ đóng vai trò châm biến những cái xấu xa của tầng lớp “lưỡng ban”, nhưng cũng có ý nghĩa điển hình. Hắn là hóa thân của giai cấp thị dân mới lên. Trước thế lực tư bản thương nghiệp này, giai cấp quý tộc phong kiến tỏ ra bất lực, trở lên tức cười đáng ghét. Tác giả ngầm chỉ ra rằng giai cấp quý tộc phong kiến đã hết thời, không còn vai trò gì ở trên vũ đài lịch sử nữa.

Hổ gầm là truyện ngắn châm biếm lũ Nho sinh trong hàng ngũ quý tộc. Tác giả thông qua lời quát mắng của con hổ để vạch trần sự hủ bại, giả dối của ngài Bắc Quách . Bắc Quách “ học vấn uyên thâm” được thiên tử và các chư hầu kính trọng, thế mà đã thông dâm với một quả phụ đã có 5 đứa con. Một hôm. Ngài Bắc Quách đang hoạn lạc với mụ quả phụ thì bị các con của mụ phát giác, chúng đuổi ngài chạy ra khỏi buồng, trong lúc hoảng hốt ngài ngã xuống hố phân. Khi ngài lổm ngổm bò ra khỏi hố thì gặp hổ cản đường. Ngài nịnh nọt, tâng bốc hổ, cầu xin hổ tha mạng. Hổ già nghe xong, gầm lên quát mắng tên Nho sinh này là hẹn hạ, đê tiện, cuối cùng hổ chê ngài thối quá nên ngài thoát chết. Câu đầu tiên khi hổ nhìn thấy ngài Bắc Quách là: “ Nho sinh thối quá”, Khi ngài xin hổ tha mạng, hổ nói: “ Xưa ta đã nghe, Nho sinh hèn hạ, nịnh bợ, nay quả thế thật” Mượn lời của hổ, tác giả chỉ ra rằng, giai cấp thống trị hễ mở miệng là nói đến “ tam cương ngũ thường”, “ nhân nghĩa đạo đức” , nhưng kỳ thực lại vô cùng tàn ác như cắt mũi, lột móng chân của người vô tội. Hổ nói “ Loài hổ chúng ta không bao giờ hành hình các người, xem ra tính hổ lại hiền lành hơn con người chúng bay”. Khổng Tử từng nói : “ Chính sự hà khắc ác hơn cả hổ”, Pak Chi Won chĩa mũi nhọn khiển trách vào bọn người thi hành bạo chính, nhục hình.

Đoạn kết của truyện Hổ gầm rất kịch tính, khi hổ chê Nho sinh thối bỏ đi rồi mà ngài Bắc Quách vẫn cứ bò mọp dưới đất, cúi đầu không dám ngẩng lên. Có người nông dân dậy sớm, ra cửa, nhìn thấy ngài, hỏi sao lại phủ phục dưới đất thế, ngài đáp: “ Thấy trời cao đất dày quá không thể không vái”.

Tác phẩm tiêu biểu nhất của Pak Chi Won là Hứa sinh truyện. Tác phẩm này về đại thể bao quát toàn bộ nội dung của tác phẩm của ông. Ví dụ như phê phán giai cấp phong kiến hủ bại, bất tài, đồng tình với nhân dân bị áp bức, ca ngợi giai cấp tư bản thương nghiệp… Ngoài ra, tác phẩm còn sáng tạo được nhân vật thể hiện tư tưởng xã hội của chính tác giả, đồng thời nêu ra cách giải quyết vấn đề của xã hội đương thời.

Tình tiết câu chuyện Hứa sinh truyện như sau: Nho sĩ Hứa sinh chăm chỉ học hành, đọc sách 7 năm mà vẫn không đỗ đạt, đành bỏ học đi tìm việc gì làm có ích cho đất nước. Ông vay của nhà giàu nọ một nghìn lạng bạc để đi buôn. Năm năm sau, ông kiếm được nhiều lãi. Ông mang tiền lãi chia cho bọn “hải tặc” (tức quân khởi nghĩa), giúp họ lấy vợ, tậu bò, đi đến một đảo hoang để lập nghiệp. Ít năm sau, từ đảo hoang ông trở về, đem tiền (cả gốc lẫn lãi) trả cho nhà giàu kia, còn mình thì vẫn sống thanh bần như xưa. Nhà giàu kia thấy ông tài giỏi bèn giới thiệu ông với đại tướng Lý Hoàn. Lý Hoàn muốn tiến cử Hứa Sinh với nhà vua , nhưng vị tướng này không tán thành chủ trương cứu nước của Hứa Sinh. Trong khi tranh cãi, Hứa sinh nổi nóng định rút gươm chém Lý Hoàn, may mà Lý Hoàn chạy thoát. Hôm sau, Lý Hoàn trở lại thì Hứa Sinh đã bỏ trốn đi rồi.

Hứa Sinh truyện chứa đựng tư tưởng khá phong phú. Chủ đề tác phẩm là bất mãn với hiện thực xã hội, tác giả sáng tạo ra một nhân vật tiến bộ, có đầu óc thực tiễn. Tư tưởng bao trùm toàn bộ tác phẩm là tư tưởng của phái Thực học, đồng thời cũng phản ánh phẩm chất đạo đức của các nhà tư tưởng đó.

Qua tác phẩm, tác giả đã thể hiện:

1. Phái Thực học coi trọng thực dụng, coi trọng kinh tế, đặc biệt là coi trọng thương nghiệp. Hứa sinh chống lại chủ trương lấy nghề đọc sách để leo lên quan, chống lại tư tưởng coi thường thương nghiệp nên ông đã quẳng bút nghiên theo việc buôn bán. Ông buôn đủ thứ, từ hoa quả đến da súc vật, lương thực. Ông thông minh tìm hiểu kỹ nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước nên làm ăn khá phát đạt. Đương thời, tư bản thương nghiệp Triều Tiên khá phát triển, nó thúc đẩy giao lưu hàng hóa, giải quyết đầu ra cho nông sản phẩm, nông dân giàu có sẽ làm cho đất nước phồn vinh. Đó là hiện thực đương thời và cũng là tư tưởng mà tác giả muốn nhấn mạnh.

Nhưng ở tác phẩm này, ta thấy trong tư tưởng tác giả có mâu thuẫn: ông vừa khẳng định tác dụng của tư bản thương mại vừa cho rằng tích trữ hàng hóa là hành động vô đạo. Ông cũng thấy được lợi ích của thương mại, nhưng cũng cho rằng thương mại phát triển sẽ tạo ra hiện tượng kẻ giàu người nghèo ở trong xã hội. Lúc đầu Hứa Sinh hăng hái đi buôn, sau bỏ về quê sống thanh bần chứng tỏ mâu thuẫn đó của tác giả.

2. Tác phẩm đồng tình với nhân dân nghèo khổ cùng đường phải đi làm “ giặc”. Tác gỉa cho rằng hiện tượng đó là do xã hội tạo nên, cần phải có kế hoạch cứu tế. Tuy tác giả chưa tỏ ra ủng hộ cuộc khởi nghĩa của nông dân nhưng thái độ của ông đối với những người đói rách, cùng quẫn, “ con giun xéo mãi cũng quằn” hoàn toàn khác với các đại sĩ phu nói chung.

3. Nhân vật Hứa Sinh của tác giả mơ ước một xã hội không có bóc lột, áp bức và mọi người đều bình đẳng. Hứa Sinh đưa những người lang thang, nghèo túng đến một hoang đảo không người để cho họ “ chặt cây làm nhà, kết tre thành rào”, cấy cày làm ăn. Mọi người đều sống bằng lao động, ngoài kính già yêu trẻ, không ai có đặc quyền lợi. Pak Chi Won thấy được mâu thuẫn giai cấp ở xã hội đương thời là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, mâu thuẫn giữa quan liêu quý tộc với nhân dân bị áp bức. Xã hội lý tưởng “ mọi người đều bình đẳng” “ mọi người đều làm việc” mà tác giả mơ ước, về cơ bản là xã hội không tưởng của chủ nghĩa bình quân, lấy kinh tế tiểu nông làm cơ sở.

Do tác giả sợ kinh tế thương mại sẽ tạo ra hiện tượng “ kẻ ăn không hết người lần không ra” nên trong xã hội lý tưởng của ông không có việc buôn bán mà chỉ có mậu dịch đối ngoại mà thôi. Tác giả cho Hứa sinh đốt hết tất cả thuyền buôn, xây dựng xã hội “ đào nguyên” cách biệt với thế giới bóc lột và những hiện tượng hủ bại, tàn ác trong xã hội phong kiến thời Lý triều.

4. Tác phẩm phê phán xã hội phong kiến đã bóp chết nhân tài. Chính quyền Lý triệu hủ bại không những không trọng dụng nhân tài mà còn không phát huy được tài lực để phát triển thương nghiệp, chấn hưng đất nước.

5. Nhân vật Hứa Sinh có kiến giải độc đáo về quan hệ đối ngoại. Đương thời ai ai cũng bất mãn với bon thống trị nhà Thanh Trung Quốc, nhưng giai cấp lãnh đạo Triều Tiên không có đủ dũng cảm, không có biện pháp thực thi điều đó, chủ trương của họ chỉ có tác dụng hướng mâu thuẫn của nhân dân ra bên ngoài mà thôi.Hứa Sinh đã đề xuất ý kiến độc đáo của mình với tướng quân Lý Hoàn, ông đề nghị, hãy bảo vệ dân di cư của triều Minh, cho phép họ kết hôn với người Triều Tiên. Ông nói, chính vì để chống lại nền thống trị hủ bại của triều Thanh, người Triều Tiên chúng ta nên bỏ triều phục ống tay rộng đi, mặc phục trang của người Mãn cho tiện việc cưỡi ngựa, đấu kiếm, bắn cung, chiến thắng kẻ thù. Và nên cử người Triều Tiên sang du học ở Trung Quốc, làm quan, buôn bán ở bên đó. Có được sự tín nhiệm của người Mãn thì trăm trận trăm thắng. Có như vậy mới thực hiện được mục đích chống Thanh.

Cuối cùng, tác phẩm còn ca ngợi nhân vật Hứa Sinh là người trí thức, có tinh thần yêu nước, có trách nhiệm với quốc gia. Trước Pak Chi Won, hình tượng nhân vật tài đức song toàn như Hứa Sinh là vô cùng hiếm hoi trong tiểu thuyết Triều Tiên.

Nghệ thuật của Hứa Sinh truyện cũng có nét độc đáo đáng nói . Tác phẩm là truyện ngắn viết theo kiểu truyện ký, khắc họa tính cách nhân vật không dễ, nhưng tác giả đã thành công. Ví dụ, khi tả cảnh tên phú hộ cho Hứa Sinh vay một nghìn lạng bạc, thông qua lời nói của tên phú hộ đã thể hiện được bộ dạng và tính cách của Hứa Sinh: “ Quần áo tuy rách rưới, lời nói giản dị nhưng vẫn tỏ ra cao ngạo, không trông thấy một chút hổ thẹn nào…” Lại khi Hứa Sinh mang tiền trả nợ tên phú hộ, khi phú hộ không lấy, Hứa Sinh đã vô cùng tức giận. Khi tướng quân Lý Hoàn vì ái mộ danh tiếng nên đã đi bái kiến Hứa Sinh, Hứa Sinh cứ để Lý Hoàn đứng đợi ngoài cổng hồi lâu… Tất cả đều thể hiện tính cách, tư tưởng của một người trí thức chân chính.

Ca ngợi những người chân chính, Pak Chi Won còn có truyện Uế Đức tiên sinh truyện. Nội dung kể về một người đổ thùng phân. Sở dĩ tên anh là “Uế” là vì anh ta suốt ngày tiếp xúc với phân, trên người đầy mùi thối. Còn chữ “ Đức” là chỉ đạo đức của anh đổ thùng phân này. Pak Chi Won cho rằng anh đổ thùng phân tuy thối nhưng đạo đức của anh ta cao đẹp, tác giả chống lại thói xem thường người lao động, khinh bỉ người đổ thùng của giới đại phu. Ông ngả mũ chào người đổ thùng phân tự lao động kiếm sống mà không sợ bẩn thỉu, thối nát, có cống hiến cho ngành công nghiệp. Ví thế, tác giả gọi anh ta là “ tiên sinh”

Dụng ý của tác giả là đối lập giữa người đổ thùng phân với bon quan lại sĩ phu. Tuy loại người này học rộng, bổng lộc nhiều nhưng không bằng một người đổ thùng. Kết luận của tác giả là: “kẻ sạch mà không sạch, còn người bẩn thì lại không bẩn”. Trong lịch sử văn học Triều Tiên, những tác phẩm nhiệt tình ca ngợi nhân dân lao động, ngoài những bài thơ của Lee Kyu Po ( Lý Khuê Báo) ra thì trong tiểu thuyết, Uế Đức tiên sinh truyện là tác phẩm đầu tiên.

Tiểu thuyết xã hội của Pak Chi Won đều có ý thức nêu ra và giải đáp những vấn đề của xã hội đương thời . Ông chĩa mũi nhọn phê phán vào bọn quý tộc, bọn nho sỹ, bọn quan liêu thống tri phong kiến; ông ca ngợi nhân dân lao động và những người có cống hiến cho tổ quốc. Ông đồng tình với những người “ có tài mà không được thi thố”. Ông vạch trần và lên án những hiện tượng tiêu cực , hủ bại của xã hội phong kiến cuối triều Lý, đồng thời thể hiện mơ ước của mình về một tương lai lý tưởng.

Về mặt nghệ thuật, tiểu thuyết của ông có một đặc điểm khá nổi bật, tình tiết không ly kỳ hấp dẫn, nhân vật không có những tính cách sắc nét, cảnh vật không miêu tả tỉ mỉ, mà thường là trình bày tư tưởng Thực học của tác giả, đượm sắc thái chính luận. Do tác giả hay chĩa mũi nhon vào hiện tượng tiêu cực đen tối nên truyện của ông mang tính châm biếm khá đậm.

Ngoài truyện ngắn ra, Pak Chi Won còn có một tập ký sự đáng chú ý nữa đó là tập Nhật ký Nhiệt Hà (2). Thể tài của tác phẩm này rất đa dạng,có nhật ký, có chính luận và có cả truyện ngăn ( Hổ gầm).Tác phẩm không ghi chép lại những điều tai nghe mắt thấy ở Trung Quốc một cách đơn thuần, mà có cả bình luận, nhận xét của tác gỉa. Nhật ký Nhiệt Hà đề cập đến nhiều vấn đề: triết học, chính trị, kinh tế, giao thông, danh lam thắng cảnh, phong tục, thiên văn, địa lý…

Nhật ký Nhiệt Hà không những là di sản quý báu của Triều Tiên mà còn là tư liệu giúp cho những ai muốn tìm hiểu tình hình chính trị, kinh tế, giao thông, thương nghiệp…của Trung Quốc ở thế kỷ XVIII.

Pak Chi Won còn là một nhà thơ khá nổi tiếng. Rất tiếc đến nay chỉ sưu tầm được 42 bài thơ chữ Hán của ông làm theo thể thất ngôn Đường thi.

Tác phẩm của ông (bao gồm tiểu thuyết, ký sự, chính luận, thơ ca) khá phong phú, nhưng sinh thời chưa được xuất bản.Mãi đến năm 1932, nghĩa là sau khi ông mất 127 nặm mới được ra mắt bạn đọc.



Chú thích

1. Lưỡng ban ( Yang ban): Tên gọi giai cấp địa chủ quan liêu thời Lý của Triều Tiên, về sau trở thành tên gọi chung cho giai cấp thống trị phong kiến Triều Tiên.

2. Nhiệt Hà: Tên một tỉnh cũ thuộc Trung Quốc. Năm 1956 sáp nhập vào tỉnh Hà Bắc, Liêu Ninh và khu tự trị Nội Mông. Năm 1780, Pak Chi Won đi thăm Trung Quốc và năm 1783 hoàn thành tác phẩm này.


[i]PGS.TS., Trường ĐHKHXH&NV HN

[ii] Prof. Dr., USSH – VNU-HN
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.